NGHỊ
ĐỊNH
CỦA
CHÍNH PHỦ SỐ 90-CP NGÀY 17-8-1994 BAN HÀNH QUY ĐỊNH
VỀ
VIỆC ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT ĐỂ
SỬ
DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG, AN NINH,
LỢI
ÍCH QUỐC GIA, LỢI ÍCH CỘNG CỘNG
CHÍNH
PHỦ
Căn cứ
Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ
Luật Đất đai ngày 14 tháng 7 năm 1993;
Theo đề
nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ
trưởng Bộ Xây dựng, Tổng cục
trưởng Tổng cục Địa chính, Trưởng
ban Ban Vật giá Chính phủ,
NGHỊ
ĐỊNH:
Điều
1
Ban hành kèm theo
Nghị định này Quy định về việc Nhà
nước đến bù thiệt hại khi thu hồi
đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng quy
định tại Điều 27 Luật Đất
đai.
Việc
đến bù thiệt hại trong các trường hợp
thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích khác không thuộc phạm vi điều chỉnh
của Nghị định này.
Điều
2
Tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân trong nước đang sử
dụng đất hợp pháp, khi bị Nhà nước thu
hồi đất để sử dụng vào các mục đích
nói tại đoạn 1 Điều 1 của Nghị
định này thì được Nhà nước đền
bù thiệt hại.
Tổ chức,
cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế,
người Việt Nam định cư ở nước
ngoài (gọi chung là người nước ngoài) và xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam được Nhà nước Việt
Nam cho thuê đất khi bị Nhà nước thu hồi
đất để sử dụng vào các mục đích
nói tại đoạn 1 Điều 1 của Nghị
định này được xem xét, giải quyết
đền bù thiệt hại theo quy định riêng.
Điều
3
Bộ
trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chịu trách nhiệm thực hiện
Nghị định này.
Điều
4
Nghị
định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Các quy định đền bù đất đai, tài
sản khi Nhà nước thu hồi đất sử
dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng ban hành trước
đây đều bãi bỏ.
QUY
ĐỊNH
VỀ
VIỆC ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT
ĐỂ
SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH QUỐC PHÒNG, AN NINH,
LỢI
ÍCH QUỐC GIA, LỢI ÍCH CÔNG CỘNG
(Ban hành kèm
theo Nghị định số 90-CP
ngày 17-8-1994
của Chính phủ)
CHƯƠNG
I
ĐỐI
TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
Điều
1
Quy định
này chỉ áp dụng để đền bù thiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng nói tại
Điều 27 Luật Đất đai:
1- Đất
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh nói
tại Quy định này là đất được xác
định tại khoản 1 Điều 65 của Luật
Đất đai.
2- Đất
sử dụng vào mục đích công cộng và lợi ích
quốc gia là đất dùng để xây dựng
đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ
thống cấp thoát nước sông, hồ, đê,
đập, trường học, bệnh viện, chợ,
công viên, vườn hoa, công trình văn hoá, khu vui chơi
giải trí công cộng, quảng trường, sân vận
động, sân bay, bến cảng, nghĩa trang liệt
sĩ, đất dùng vào xây dựng đập hoặc
hồ thuỷ điện, đường dây tải
điện, các công trình kết cấu hạ tầng, công
trình thuỷ lợi, công trình nghiên cứu khoa học, xây
dựng công sở (trụ sở cơ quan Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội) và các công trình khác theo
quy định của Chính phủ.
Điều
2
1- Người
được đền bù thiệt hại về
đất khi Nhà nước thu hồi đất phải
là người được Nhà nước giao
đất sử dụng hoặc là người sử
dụng đất ổn định trước khi
Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và có
đủ điều kiện được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng từng loại đất
theo quy định của các Nghị định do Chính
phủ ban hành để thi hành Luật Đất đai.
2- Nếu
người bị thu hồi đất không có các giấy
tờ hợp pháp trên đây thì phải có giấy tờ
chuyển nhượng, hoặc chuyển đổi
hoặc thừa kế quyền sử dụng đất
được Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm
quyền xác nhận.
Điều
3
1- Hộ gia
đình, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp
mà bị Nhà nước thu hồi đất thì
được Nhà nước đến bù thiệt
hại về đất và đền bù thiệt hại về
tài sản hiện có trên đất.
2- Hộ gia
đình, cá nhân sử dụng đất tạm giao,
đất cho thuê, đất đấu thầu, bị Nhà
nước thu hồi đất thì tuỳ từng
trường hợp cụ thể được
đến bù tài sản và trợ cấp vốn.
Điều
4
1- Cơ quan Nhà
nước, các tổ chức chính trị - xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà
nước giao đất mà được miễn
nộp tiền sử dụng đất hoặc đã
nộp tiền sử dụng đất thuộc nguồn
vốn ngân sách Nhà nước, thì khi Nhà nước thu
hồi đất các tổ chức này không được
đến bù thiệt hại về đất, nhưng
được Nhà nước xem xét cấp đất
mới.
2- Doanh
nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của các tổ
chức chính trị - xã hội, Công ty cổ phần, Công ty
trách nhiệm hữu hạn, đơn vị kinh tế
tập thể, doanh nghiệp tư nhân khi Nhà nước
thu hồi đất thì được đến bù
thiệt hại về đất nếu đất
đang sử dụng là đất được giao
đã nộp tiền sử dụng đất mà tiền
đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách Nhà
nước.
Trong
trường hợp đất đang sử dụng mà khi
được giao không phải nộp tiền sử
dụng đất hoặc nộp tiền sử dụng
đất bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà
nước thì không được đến bù thiệt
hại về đất.
Điều
5
Tổ chức,
cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế,
người Việt Nam định cư ở nước
ngoài (gọi chung là người nước ngoài) và xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam được Nhà nước Việt
Nam cho thuê đất, khi bị Nhà nước thu hồi
đất để sử dụng vào các mục đích
nói tại đoạn 1 Điều 1 của Nghị
định này được xem xét, giải quyết
đền bù thiệt hại theo quy định riêng
của Chính phủ Việt Nam.
CHƯƠNG
II
ĐỀN
BÙ THIỆT HẠI VỀ ĐẤT
Điều
6
Người
được Nhà nước giao đất sử
dụng vào mục đích nào thì khi Nhà nước thu
hồi đất được đền bù bằng cách
giao đất có cùng mục đích sử dụng
để thay thế hoặc đến bù bằng tiền
theo giá đất cùng mục dích sử dụng.
Trường
hợp Nhà nước không thể đền bù bằng cách
giao đất thay thế hoặc người bị thu
hồi đất không yêu cầu đền bù bằng
đất thì đền bù bằng tiền theo giá
đất cùng hạng hoặc cùng loại của
đất bị thu hồi. Giá đất để tính
đến bù thiệt hại do Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây
gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành
theo khung giá đất do Chính phủ quy định.
Điều
7
Quỹ
đất dùng để đền bù thiệt hại
gồm:
1- Đất
chưa sử dụng.
2- Đất
được khai hoang bằng nguồn vốn của ngân
sách Nhà nước, đất tạo lập, quỹ
đất dùng để tạo vốn xây dựng cơ
sở hạ tầng.
3- Đất
thu hồi theo quy định tại Điều 26 của
Luật Đất đai.
4- Quỹ
đất công ích theo quy định tại Điều 45
của Luật Đất đai.
Điều
8
Người
đang sử dụng đất hợp pháp quy định
tại khoản 1 Điều 3 và điểm a, khoảng 2,
Điều 4 của bản Quy định này; khi bị Nhà
nước thu hồi đất, thì được Nhà
nước đền bù thiệt hại về đất
như sau:
1- Nếu
đất thu hồi là đất nông nghiệp,
đất lâm nghiệp thì được đền bù
bằng đất cùng loại theo đúng diện tích và
hạng đất của đất bị thu hồi.
Trường
hợp đất đền bù thuộc hạng thấp
hơn hạng đất của đất bị thu
hồi, những vẫn thuộc hạng 1, 2, 3 thì phần
chênh lệch về hạng đất này không
được đền bù thiệt hại.
Trường
hợp đất đền bù thuộc đất
hạng 4, 5, 6 thì được đền bù thêm phần
giá trị chênh lệch về hạng đất đó. Giá
trị chênh lệch về hạng đất
được tính theo giá đất do Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh ban hành theo khung giá đất do Chính phủ
quy định.
2- Nếu
đất bị thu hồi là đất chuyên dùng,
đất ở thì được đền bù bằng
đất chuyên dùng, đất ở theo đúng diện
tích và loại đất hoặc hàng đất bị thu
hồi.
Trường
hợp đất đền bù có giá trị thấp hơn
thì được đền bù thiệt hại phần
chênh lệch giá trị giữa đất chuyên dùng và đất
được đền bù.
Đối
với đất ở tại đô thị khi Nhà
nước thu hồi thì được đến bù
chủ yếu bằng nhà ở hoặc bằng tiền.
Điều
9
Khi thu hồi
đất của người sử dụng đất
trong các trường hợp theo quy định tại
khoảng 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 4 của
Quy định này, tuỳ từng trường hợp Nhà
nước xét hỗ trợ bằng cách giao đất
hoặc tiền nhưng mức tối đa không quá 30%
diện tích đất hoặc giá trị đất bị
thu hồi.
Riêng
trường hợp thu hồi đất đấu
thầu, đất cho thuê thì được đền bù
tương đương giá trị của đất
tính theo thời gian sử dụng còn lại.
Điều
10
Người
sử dụng đất bất hợp pháp, khi bị Nhà
nước thu hồi, không được đền bù
thiệt hại về đất và phải tự chịu
mọi chi phí tháo dỡ, giải toả mặt bằng theo
yêu cầu của Nhà nước.
CHƯƠNG
III
ĐỀN
BÙ THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN
Điều
11
Đối
với nhà ở, vật kiến trúc và các công trình gắn
liền với đất được đền bù
bằng giá trị hiện có của công trình. Giá trị này
được xác định bằng tỷ lệ (%) giá
trị còn lại của công trình nhân với giá xây dựng
mới theo mức giá chuẩn do Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh ban hành theo quy định của Nhà nước.
Trường
hợp giá trị còn lại của nhà và các công trình phụ
trợ quá thấp, mức đền bù không đủ xây
dựng ngôi nhà ở mới có tiêu chuẩn kỹ thuật
tương đương ngôi nhà đã phá dỡ, thì hộ
gia đình có thể được đền bù thêm
nhưng tổng mức đền bù không vượt quá giá
xây dựng mới theo mức giá chuẩn do địa
phương ban hành của ngôi nhà cùng tiêu chuẩn kỹ
thuật.
Đối
với nhà cửa, vật kiến trúc hoặc công trình có
thể tháo rời và di chuyển đến chỗ ở
mới để lắp đặt được thì
chỉ đền bù chi phí tháo dỡ, vận chuyển,
lắp đặt lại và chi phí vật tư bị hao
hụt, hư hỏng trong quá trình thao dỡ, vận
chuyển, lắp đặt. Mức đền bù tối
đa không vượit quá 10% mức giá chuẩn của ngôi
nhà cùng tiêu chuẩn kỹ thuật do Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh ban hành và đảm bảo cho mỗi gia
đình phải di chuyển chỗ ở được
trợ cấp về di chuyển tối thiểu 400.000
đồng.
Điều
12
1- Đối
với việc di chuyển mồ mả, mức tiền
đền bù để di chuyển được tính cho
toàn bộ chi phí đào, bốc, di chuyển và xây dựng lại
theo đúng thực trạng.
2- Việc
đền bù di chuyển đối với các di tích
lịch sử, nhà thờ, đình, chùa, nghĩa trang liệt
sỹ, do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định cho từng trường hợp cụ thể.
Điều
13
1- Mức
đền bù đối với cây hàng năm và vật nuôi
trên đất có mặt nước tính bằng giá trị
sản lượng thu hoạch một vụ tính theo
mức thu hoạch bình quân của 3 vụ trước
đó theo giá nông sản, thuỷ sản thực tế
ở thị trường địa phương tại
thời điểm đền bù.
2- Mức
đền bù đối với cây lâu năm
được quy định như sau:
a) Nếu cây
trồng đang ở thời kỳ xây dựng cơ
bản hoặc mới bắt đầu thu hoạch thì
đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban
đầu, chăm sóc đến thời điểm thu
hồi đất.
b) Nếu cây
trồng đang ở thời kỳ thu hoạch thì
đền bù theo giá trị còn lại của vườn
cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá
trị đầu tư ban đầu cộng chi phí
chăm sóc đến vụ thu hoạch đầu tiên trừ
phần đã khấu hao. Trong trường hợp không xác
định được giá trị còn lại của
vườn cây thì mức đền bù tối đa
bằng 2 năm sản lượng tính theo sản
lượng bình quân của 3 năm trước đó và
theo giá của nông sản cùng loại ở thị
trường địa phương tại thời
điểm đền bù.
c) Nếu là các
loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì
đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban
đầu và chi phí chăm sóc tính đến thời
điểm thu hồi đất.
d) Nếu là cây
lâu năm đến thời hạn thanh lý thì chỉ
đến bù chi phí cho việc chặt hạ cho chủ
sở hữu vườn cây.
CHƯƠNG
IV
TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
Điều
14
Khi có quyết
định thu hồi đất của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thì Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh lập Ban chỉ đạo thu hồi đất
để tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh thực hiện việc đến bù
thiệt hại đất và tài sản cho người
bị thu hồi đất.
Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm
quyết định phương án đền bù theo
đề nghị của Ban chỉ đạo thu hồi
đất và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
Điều
15
Tổ chức,
cá nhân có đất bị thu hồi được
quyền kê khai diện tích, hạng đất, loại
đất, vị trí của đất, số
lượng tài sản... hiện có trên đất gửi
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có
đất bị thu hồi.
Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn kiểm tra, xác nhận
vào từng bản kê khai tổng hợp báo cáo tình hình
sử dụng quỹ đất dùng để đền
bù thiệt hại tại xã để báo cáo cho Uỷ ban
nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh và gửi cho Ban chỉ đạo thu hồi
đất cấp tỉnh.
Điều
16
Tổ chức
được giao đất có nghĩa vụ trực
tiếp thực hiện việc đền bù bằng
tiền hoặc trả trợ cấp (nếu có) cho
người có đất bị thu hồi.
Điều
17
Người
bị thu hồi đất nếu thấy quyết
định đền bù thiệt hại của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh là không đúng với quy định
của Nghị định này thì được quyền
khiếu nại. Người khiếu nại phải
gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh, trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định đền bù thiệt
hại, quá thời hạn này đơn khiếu nại
không được xem xét xử lý.
Trong thời
hạn 1 tháng, kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải
xem xét, quyết định và trả lời cho
người khiếu nại. Quyết định của
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.