LUẬT
Sửa Đổi,
Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Ngân Sách
Nhà Nước
Căn
cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xă hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật
này sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật ngân sách nhà nước đă được
Quốc hội nước Cộng hoà xă hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua
ngày 20 tháng 3 năm 1996.
Điều 1
Sửa
đổi, bổ sung một số điều của
Luật ngân sách nhà nước:
1. Điều
4 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
4
Ngân
sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân
sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách
địa phương). Quan hệ giữa ngân sách các
cấp được thực hiện theo các nguyên tắc
sau đây:
1.
Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính
quyền địa phương được phân định
nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
2.
Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm
công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa
phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân
sách cấp dưới;
3.
Trường hợp cơ quan quản lư nhà nước
cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lư nhà
nước cấp dưới thực hiện nhiệm
vụ chi thuộc chức năng của ḿnh, th́ phải
chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp
dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
4.
Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền
thực hiện nhiệm vụ chi quy định tại
các khoản 2 và 3 Điều này, không được dùng
ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ
của cấp khác, trừ trường hợp đặc
biệt theo quy định của Chính phủ."
2. Điều
28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
28
Nguồn
thu của ngân sách trung ương gồm:
1.
Các khoản thu 100%:
a)
Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;
b)
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
c)
Thuế tiêu thụ đặc biệt, không kể thuế
tiêu thụ đặc biệt hàng sản suất trong
nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mă, hàng mă và các
dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê;
kinh doanh gôn (golf) bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh
doanh ca-si-nô (casino); tṛ chơi bằng máy giắc-pót (jackpot);
kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe;
d)
Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn
vị hạch toán toàn ngành;
đ)
Các khoản thuế và thu khác từ dầu khí phải
nộp ngân sách trung ương theo quy định của
Chính phủ;
e)
Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước,
tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các
cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay
của Nhà nước (cả gốc và lăi), thu từ
quỹ dự trữ nhà nước;
g)
Các khoản do Chính phủ vay; viện trợ không hoàn
lại của Chính phủ các nước, các tổ
chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ theo quy định
của pháp luật;
h)
Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào
ngân sách trung ương theo quy định của Chính
phủ;
i)
Thu kết dư ngân sách trung ương;
k)
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh:
a)
Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị
gia tăng quy định tại điểm a khoản 1 Điều
này;
b)
Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu
nhập doanh nghiệp quy định tại điểm d
khoản 1 Điều này;
c)
Thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao;
d)
Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài;
đ)
Thu sử dụng vốn ngân sách."
3. Điều
30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
30
Nguồn
thu của ngân sách cấp tỉnh gồm:
1.
Các khoản thu 100%:
a)
Tiền cho thuê đất;
b)
Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở
hữu nhà nước;
c)
Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn
huyện, quận; không kể lệ phí trước bạ
nhà, đất;
d)
Thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết;
đ)
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp
tỉnh theo quy định của pháp luật;
e)
Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào
ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ;
g)
Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu
tư xây dựng các công tŕnh kết cấu hạ tầng
theo quy định của Chính phủ;
h) Đóng
góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở
trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh;
i)
Thu kết dư ngân sách cấp tỉnh;
k)
Bổ sung từ ngân sách trung ương;
l) Các khoản thu khác theo quy định
của pháp luật.
2.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh
theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của
Luật này. Việc phân cấp cụ thể các khoản
thu này cho ngân sách các cấp chính quyền địa
phương do cấp tỉnh quy định trong phạm
vi tỉnh được phân cấp.
3.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và
ngân sách xă, thị trấn:
a)
Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
b)
Thuế nhà, đất;
c)
Tiền sử dụng đất.
4.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và
ngân sách xă, thị trấn, phường:
a)
Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
b)
Thuế tài nguyên;
c)
Lệ phí trước bạ nhà, đất;
d)
Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản suất
trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mă, hàng mă và
các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa,
ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh
doanh ca-si-nô; tṛ chơi bằng máy giắc-pót; kinh doanh vé đặt
cược đua ngựa, đua xe.
Các
khoản thu quy định tại các điểm a, b, c và d
khoản này, ngân sách địa phương được
hưởng 100%. Việc phân cấp cụ thể các
khoản thu này cho ngân sách các cấp chính quyền địa
phương do cấp tỉnh quy định; riêng tỷ
lệ phần trăm (%) phân chia thuế sử dụng đất
nông nghiệp cho ngân sách xă, thị trấn, phường
tối thiểu là 20%."
4. Điều
32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
32
Nguồn
thu của ngân sách cấp huyện gồm:
1.
Các khoản thu 100%:
a)
Thuế môn bài, trừ thuế môn bài thu từ các cá nhân và
nhóm kinh doanh nhỏ ở xă, thị trấn;
b)
Thuế sát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia
súc trên địa bàn phường;
c)
Các khoản phí, lệ phí từ các hoạt động do
các cơ quan thuộc cấp huyện quản lư;
d)
Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp
của các đơn vị do cấp huyện quản lư;
đ)
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp
huyện theo quy định của pháp luật;
e) Đóng
góp của các tổ chức, cá nhân để đầu
tư xây dựng các công tŕnh kết cấu hạ tầng
theo quy định của Chính phủ;
g) Đóng
góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở
trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;
h)
Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
i)
Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh;
k)
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và
ngân sách xă, thị trấn, phường theo quy định
tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30 của Luật
này.
3.
Ngoài ra, đối với thị xă, thành phố thuộc
tỉnh được phân chia với ngân sách cấp
tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) khoản thu
lệ phí trước bạ, không kể lệ phí
trước bạ nhà, đất phát sinh trên địa bàn
và được thành lập quỹ đầu tư theo
quy định của Chính phủ."
5. Điều
33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"
Điều 33
Nhiệm
vụ chi của ngân sách cấp huyện gồm:
1.
Chi thường xuyên về:
a)
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, văn
hoá, thông tin, thể dục - thể thao, xă hội và các
hoạt động sự nghiệp khác do cơ quan cấp
huyện quản lư; riêng về giáo dục, đào tạo, y
tế theo phân cấp của cấp tỉnh;
b) Quốc pḥng, an ninh và trật tự
- an toàn xă hội, phần giao cho cấp huyện;
c)
Hoạt động của các cơ quan nhà nước,
cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ
chức chính trị - xă hội cấp huyện;
d)
Tài trợ cho các tổ chức xă hội, xă hội -
nghề nghiệp cấp huyện theo quy định
của pháp luật;
đ)
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
e)
Ngoài các nhiệm vụ chi quy định tại các điểm
a, b, c, d và đ, khoản 1 Điều này, đối
với thị xă, thành phố thuộc tỉnh c̣n đảm
nhận thêm các nhiệm vụ chi về quản lư, duy tu,
bảo dưỡng các công tŕnh công cộng, sự
nghiệp thị chính.
2.
Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu
tư xây dựng các công tŕnh kết cấu hạ tầng
kinh tế - xă hội theo phân cấp của tỉnh. Trong
phân cấp đối với thị xă, thành phố
thuộc tỉnh, phải có nhiệm vụ chi đầu
tư xây dựng các trường phổ thông quốc
lập các cấp và các công tŕnh phúc lợi công cộng, điện
chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô
thị, an toàn giao thông, vệ sinh đô thị.
3.
Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới."
6. Điều
34 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
34
Nguồn
thu của ngân sách xă, thị trấn gồm:
1.
Các khoản thu 100%:
a)
Thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ;
b)
Thuế sát sinh;
c)
Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp thu cho ngân
sách xă, thị trấn theo quy định của pháp
luật;
d)
Thu từ sử dụng qũy đất công ích và thu hoa
lợi công sản khác;
đ)
Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp do xă,
thị trấn quản lư;
e)
Các khoản đóng góp tự nguyện cho xă, thị
trấn;
g)
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và
cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xă, thị
trấn theo quy định của pháp luật;
h)
Thu kết dư ngân sách xă, thị trấn;
i)
Bổ sung từ ngân sách cấp trên;
k)
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và
ngân sách xă, thị trấn, phường theo quy định
tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 30 của Luật
này."
7. Điều
37 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
37
Nguồn
thu của ngân sách phường gồm:
1.
Các khoản thu 100%:
a)
Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp cho ngân
sách phường theo quy định của pháp luật;
b)
Thuế sát sinh, trừ thuế sát sinh thu từ các doanh
nghiệp giết mổ gia súc;
c)
Các khoản đóng góp tự nguyện của tổ
chức, cá nhân cho phường;
d)
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và
cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho
phường theo quy định của pháp luật;
đ)
Thu kết dư ngân sách phường;
e)
Bổ sung từ ngân sách cấp trên;
g)
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%)
giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân
sách xă, thị trấn, phường theo quy định
tại các khoản 2 và 4 Điều 30 của Luật
này."
8. Điều
39 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
39
Chính
phủ quy định cụ thể tỷ lệ phần
trăm (%) phân chia các khoản thu được quy định
tại khoản 2 Điều 28 của Luật này giữa
ngân sách trung ương với ngân sách từng tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
Căn
cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) do Chính phủ quy định
cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
cụ thể tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các
khoản thu được quy định tại các
khoản 2, 3 và 4 Điều 30, các khoản 2 và 3 Điều
32 của Luật này giữa ngân sách cấp tỉnh với
ngân sách từng huyện, quận, thị xă, thành phố
thuộc tỉnh và ngân sách từng xă, phường, thị
trấn.
Tỷ
lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giao cho
từng cấp được ổn định từ 3 đến
5 năm."
9. Điều
40 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
40
Số
bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp
dưới để cân đối thu, chi ngân sách, bảo đảm
thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xă hội được
giao, được xác định trên cơ sở tính toán
các nguồn thu, nhiệm vụ chi quy định tại các
điều 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 37 và 38 của Luật
này theo các tiêu thức: dân số, điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế - xă hội của
từng vùng, chú ư tới vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách
mạng, vùng dân tộc thiểu số và các vùng có khó khăn.
Số bổ sung này được ổn định
từ ba đến năm năm. Hàng năm trong
trường hợp có trượt giá, căn cứ vào
số bổ sung đă được Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quyết định và
tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính
phủ quyết định mức điều chỉnh tăng
một phần theo tỷ lệ trượt giá và một
phần theo tốc độ tăng trưởng kinh
tế trong việc tính bổ sung cho ngân sách cấp
dưới."
10. Điều
44 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
44
1.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc
thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu,
chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được
giao và gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
2.
Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương
xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn
vị cùng cấp và dự toán ngân sách của cấp chính
quyền cấp dưới, tổng hợp, lập dự
toán và phương án phân bổ ngân sách địa
phương tŕnh Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
3.
Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc
Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân
dân xem xét dự toán ngân sách do Uỷ ban nhân dân cùng cấp
lập để báo cáo cơ quan hành chính nhà nước
cấp trên tổng hợp tŕnh Quốc hội.
Sau
khi dự toán ngân sách nhà nước được Quốc
hội quyết định, căn cứ vào nhiệm
vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao, Uỷ
ban nhân dân có trách nhiệm lập dự toán và phương
án phân bổ ngân sách địa phương tŕnh Hội đồng
nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan
hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên
trực tiếp."
11. Điều
50 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều
50
1.
Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà
nước năm sau trước ngày 30 tháng 11 năm
trước.
2.
Trong trường hợp dự toán ngân sách nhà nước
chưa được Quốc hội quyết định,
Chính phủ lập lại dự toán ngân sách nhà nước
tŕnh Quốc hội vào thời gian do Quốc hội
quyết định.
3.
Hội đồng nhân dân căn cứ vào dự toán ngân
sách được cấp trên giao, căn cứ vào
nguồn thu, nhiệm vụ chi đă được phân
cấp cho địa phương và chế độ, chính
sách hiện hành, quyết định dự toán ngân sách địa
phương theo thời gian quy định của Chính
phủ."
12. Điều
62 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 62
Trong quá tŕnh chấp hành ngân sách nhà
nước, nếu có sự thay đổi về thu, chi
th́ thực hiện như sau:
1. Số tăng thu và tiết
kiệm chi so với dự toán được giao được
sử dụng để giảm bội chi, tăng chi
trả nợ hoặc để bổ sung quỹ dự
trữ tài chính và tăng chi cho các khoản cần thiết
khác theo quy định của Chính phủ;
2. Trường hợp số thu
không đạt dự toán được duyệt, Thủ
tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được
phép điều chỉnh giảm một số khoản chi
tương ứng, đồng thời báo cáo Uỷ ban thường
vụ Quốc hội và Quốc hội, Hội đồng
nhân dân cùng cấp trong kỳ họp gần nhất;
3. Trường hợp có nhu
cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không
thể tŕ hoăn được mà khoản dự pḥng ngân sách
không đủ đáp ứng, Thủ tướng Chính
phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải sắp
xếp lại các khoản chi trong dự toán được
giao để có nguồn đáp ứng nhu cầu chi đột
xuất đó;
4. Hàng năm, trong trường
hợp có số tăng thu từ thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc
biệt so với nhiệm vụ thu được giao,
không kể thuế tiêu thụ đặc biệt quy định
tại khoản 4 Điều 30 của Luật này, Chính
phủ quyết định trích một phần theo tỷ
lệ phần trăm (%) của số tăng thu đó cho
ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây
dựng các công tŕnh kết cấu hạ tầng và báo cáo
Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
5. Trường hợp quỹ ngân
sách nhà nước thiếu hụt tạm thời, phải
sử dụng quỹ dự trữ tài chính để
xử lư. Riêng đối với ngân sách trung ương
nếu quỹ dự trữ tài chính không đáp ứng được,
Ngân hàng nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung
ương theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ.
Tạm ứng từ quỹ
dự trữ tài chính của ngân sách các cấp và tạm
ứng từ Ngân hàng nhà nước của Ngân sách trung
ương phải được hoàn trả trong năm
ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do
Thủ tướng Chính phủ quyết định."
Điều 2
Luật
này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1999.
Điều 3
Chính
phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định
chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước cho phù
hợp với Luật này.
Luật
này đă được Quốc hội nước
Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X,
kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998.