1. Tài nguyên đất
Quỹ đất Đồng Nai có 10 nhóm đất chính; trong đó, loại đất xám chiếm tỷ lệ 40,05% diện tích tự nhiên toàn tỉnh (DTTN), vừa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp vừa cho phát triển công nghiệp và xây dựng. Đất đen (22,44% DTTN) thích hợp trồng các loại cây hằng năm. Đất đỏ (19,27% DTTN) rất thích hợp trồng các cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, các nhóm đất khác như đất phù sa ven sông Đồng nai, đất Gley (9,32%), chủ yếu dùng cho trồng lúa, rau, màu và các loại cây trồng khác như đất nâu (1,94%), đất tầng mỏng (0,54%), đất đá bọt (0,41%), đất cát (0,1%), đất có tầng loang lổ chỉ chiếm 0,02%. Diện tích đất có chất lượng (độ phì, tầng dày) từ trung bình đến cao chiếm 44%. Đất có tầng mỏng dưới 50cm, chất lượng kém chiếm 40% tổng quỹ đất.
Nhìn chung, quỹ đất không chỉ thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, tạo ra các vùng chuyên canh có tỷ suất hàng hoá cao mà còn thuận lợi cho việc xây dựng các công trình xây dựng và công nghiệp.
2. Tài nguyên nước:
Nguồn nước mặt rất phong phú, chủ yếu là nguồn nước sông Đồng Nai, với lưu lượng lớn nhất là 880m3/s, nhỏ nhất là 130m3/s; đảm bảo đủ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nước sinh hoạt các khu dân cư đô thị trên địa bàn.
Mạng lứơi sông ngòi trên địa bàn tỉnh khá chằng chịt với trên 60 sông suối lớn nhỏ. Sông Đồng Nai, có ý nghĩa quyết định đối với chế độ thuỷ văn và cân bằng sinh thái của vùng. Hiện có trên 23 hồ chứa nước, trong đó lớn nhất là hồ Trị An có diện tích 323km2, dung tích khoảng gần 2,8 tỷ m3 nước. Nguồn nước mặt bảo đảm cho nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống của Tỉnh Đồng Nai và có thể cung cấp thêm một phần cho tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và Thành Phố Hồ Chí Minh. Đó cũng là điều kiện tự nhiên để thực hiện liên kết kinh tế chặt chẽ giữa Đồng Nai với các địa phương khác của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tiềm năng nước ngầm của tỉnh Đồng Nai cũng khá lớn: trữ lượng tĩnh trên 1.940.000 m3/ngày, trữ lượng động trên 3.000.000 m3/ ngày. Chất lượng nước khá tốt. Nguồn nước ngầm được xem là nguồn nước dự phòng và có thể cung cấp phục vụ sản xuất, xây dựng và dân sinh với quy mô vừa và nhỏ.
3. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như: kim loại quý (vàng), kim loại màu (bauxit), đá quý, nguyên liệu gốm sứ (kaolin, sét bột màu), vật liệu xây dựng, phụ gia ciment, than bùn, nước khoáng và nước nóng.... Đến nay, đã phát hiện hơn 200 mỏ và điểm khoáng sản, trong đó đáng chú ý là các khoáng sản phục vụ xây dựng như: đá xây dựng, tập trung chủ yếu ở TP. Biên hòa và các huyện Thống nhất, Xuân lộc, Long Thành với tổng trử lượng lớn (dự báo trên 300 triệu m3). Cát xây dựng, tập trung chủ yếu trong trầm tích của sông Đồng nai và một số sông khác với trử lượng dự báo trên 38 triệu m3. Nguồn sét gạch ngói khá phong phú, phân bổ ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tổng trử lượng trên 85 triệu m3. Có 23 điểm tích mỏ phụ gia ciment (Puzơlan), có tổng trử lượng trên 400 triệu tấn và 12 điểm mỏ Laterit, dự báo trử lượng trên 23 triệu tấn. Như vậy, tài nguyên khoáng sản của Tỉnh khá phong phú, đa dạng, đảm bảo cung cấp phần quan trọng cho nhu cầu phát triển trước mắt của công nghiệp địa phương và xây dựng.
4. Tài nguyên rừng
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% DTTN, năm 1981 còn 21,5% . Đến nay, độ che phủ rừng đã tăng lên đạt khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010.
Biểu 1 Diện tích các loại rừng
|
Loại rừng |
Diện tích rừng (ha) |
Rừng tự nhiên
(ha) |
Rừng trồng
(ha) |
|
Rừng đặc dụng |
40.350 |
40.076 |
274 |
|
Rừng phòng hộ |
33.998 |
22.352 |
11.646 |
|
Rừng sản xuất (cả diện tích rừng giống) |
105.460 |
69.057 |
36.403 |
|
Tổng cộng |
179.808 |
131.485 |
48.323 |
5. Tài nguyên thuỷ sản
Ngành thuỷ sản được phát triển chủ yếu dựa vào diện tích mặt nước của các hồ chứa nước, các sông Đồng nai, La Ngà...Quan trọng nhất là mặt nước hồ Trị An có diện tích khoảng 323 km2 có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản và diện tích mặt nước lợ ven sông Đồng nai (khu vực huyện Nhơn Trạch- Long Thành) có thể phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ khoảng từ 2.000- 3.000 ha.